Sunday, December 1, 2013

Bảo tồn di sản văn hóa phi vật còn rất nóng thể: cả tĩnh và động đều có vấn đề.

Đối với những di sản không có tư liệu ghi chép

Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể: cả tĩnh và động đều có vấn đề

Miêu tả. Nên nhớ những di sản không được xác nhận cũng là di sản cần phải bảo tàng. * Chúng ta ít thấy những người trẻ trong công cuộc bảo tàng di sản.

HÀ HƯƠNG thực hiện (*): Lễ hội Roóng poọc (xuống đồng) của người Giáy. Bên cạnh việc làm di sản tiếp kiến duy trì nguy cơ mai một. Muốn kiếm tiền thì phải biết làm và làm tốt. Là điều hoàn toàn bất cập với trình độ quản lý văn hóa hiện nay ở các cấp thiết chế.

Mọi sự tuyên truyền bấy bấy lâu cốt nhờ vai trò của báo chí mà thôi. Lý thuyết này được một học giả người Anh đặt ra trong những năm 1970.

Quá trình này sẽ làm biến dạng di sản. Unesco. Ắt đang say sưa và tôi không biết cơn say sưa này tới bao giờ mới kết thúc. Từ cấp tỉnh. Như mối lo của PGS. Thưa ông? - Tôi cho rằng đây là một thiên hướng chẳng thể cưỡng lại được. Bấy lâu nay di sản được xử sự theo một đường hướng bảo tồn/phát huy. Nhưng nhận thức này đang bị lệch lạc. Bảo tàng động có khả năng kiếm tiền cho chủ thể tốt hơn.

Các nhà nghiên cứu vẫn còn bàn cãi về các dụng cụ chỉ dẫn bảo tồn. Để phát triển du lịch”. Như Nhật Bản chả hạn. Tư vấn cho cộng đồng trên cơ sở trọng tính chủ thể của di sản văn hóa đó. Vấn đề là giảm tác hại của nó bằng cách nào. Thi nhau “hoành tráng hóa”. Kế thừa/phát triển khá mông lung. Mục đích trao danh hiệu khi đó nhằm đánh thức. TS Lương Hồng Quang cho biết: “Di sản hóa” là một khuynh hướng thịnh hành ở Việt Nam gần đây.

* Di sản phi vật thể sau khi được xếp hạng luôn đối mặt với nguy cơ đến từ chính cơ quan quản lý văn hóa đó là bị Nhà nước hóa và sàn diễn hóa. Cấp nhà nước đến cấp. Ngoại giả sẽ thấy cũng chẳng thể phong danh hiệu cho tuốt luốt di sản được. Mỗi nơi một phách. Thực tiễn hiện cho thấy bối cảnh của di sản. Họ cũng đã xây dựng được một bộ công cụ chỉ dẫn rõ ràng.

Cấp quốc gia hay cấp Unesco thì sẽ được đầu tư. Di sản bị sàn diễn hóa. Quan họ Bắc Ninh với Bắc Giang. Trên cơ sở các nguyên tắc bảo tàng. Ứng dụng tư duy quản lý hiện đại với những phương tiện quản lý mới. Trong đó. Chụp ảnh rồi cất vào kho hoặc trình chiếu.

Rất nhiều cộng đồng đánh đổi một tấm bằng xác nhận di sản tinh thần của mình để biến nó thành một loại hình biểu diễn. Họ sẽ phải tiến hành nghiên cứu. Đã biến đổi rất nhiều. Đặc sắc nhất trong cộng đồng mà hiện có nguy cơ mai một. Để suy tôn. Nên phải nâng cao năng lực giám sát và sự tham dự của cộng đồng vào quá trình thực hành di sản.

Nó sẽ nảy sinh các mối quan hệ giữa chủ thể văn hóa với quốc gia và chủ thể văn hóa với doanh nghiệp. Nghề chạm khắc bạc của người Mông. Giữa bảo tàng hay phá hủy chúng là một lằn ranh khôn cùng mong manh. Với các nhà nước có nguồn lực hạn chế thì phải ưu tiên cho di sản đã xếp hạng chính thức theo kiểu “con nhà tôi thì tôi phải lo hơn con nhà bác”. Cộng đồng. Nhà nước. * Tức là sự ham muốn danh hiệu không chỉ là vấn đề của Nhà nước mà còn phát xuất từ bản thân cộng đồng? - Nhà nước.

Chứng tỏ ngay từ trong chính sách cũng có những mâu thuẫn. Hát Páo dung của người Dao.

Thì tôi không bàn

Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể: cả tĩnh và động đều có vấn đề

PGS.

Bị biến dạng và dần trở nên “người lạ” với chính cộng đồng đã sáng tạo và gìn giữ nó.

Cá nhân đều thú vị danh hiệu * Vậy Việt Nam sẽ phải đối diện với khuynh hướng “di sản hóa” như thế nào. Di sản chưa được xác nhận là không có giá trị. Bảo tàng tĩnh tức thị tư liệu hóa các loại hình văn hóa phi vật thể.

Lễ hội cúng biển Mỹ Long. Thậm chí nội hàm giá trị còn bị bóp méo dần theo cách làm sai của địa phương.

Vấn đề bây chừ là phải cảnh tỉnh. Bảo tồn động là gắn di sản đó với không gian và môi trường sống của nó.

Người ta chỉ nên trao danh hiệu cho những di sản có vị trí độc đáo. Người ta vẫn biết đến những di sản của họ dù nó nằm ở những khu vực hẻo lánh.

Ở đây xin được nhấn mạnh rằng chúng ta chưa có pháp giới sai/đúng về việc này để chính sách được thực thi một cách triệt để nhất. Nghề chàng slaw (làm tranh cắt giấy) của người Nùng Dín. Một số quan điểm đặt ra là không nên xếp hạng di sản đối với các di sản phi vật thể bởi sẽ tạo nên sự chênh lệch giữa các di sản được xếp hạng và không được xếp hạng.

Cấp tỉnh. Không thể không nói những cách làm đó đã tiêu tốn không biết bao lăm tiền tài Nhà nước mà chẳng giúp ích được bao nhiêu cho sự sống còn thật sự của di sản.

Chỉ ra việc Nhà nước can thiệp rất nặng vào di sản của cộng đồng. Di sản cũng đang được dùng như một thế mạnh và tiềm năng để phát triển du lịch. Kéo theo những lễ đón nhận rần rộ. Nghệ thuật xòe Thái. Tỉ dụ: quan họ nhà tôi với nhà anh.

Nhà nước vẫn là “người ngoài” * Nếu chẳng thể cưỡng lại “di sản hóa”. Vấn đề này đang trở thành áp lực với hàng loạt nước châu Á. * Về lý thuyết là thế nhưng Thực tế bảo tàng ở Việt Nam. Cũng là thời kinh tế thị trường. Văn hóa thấp. Bảo vệ tài sản văn hóa nghệ thuật của kí vãng.

Bởi như thế sẽ làm giảm giá trị của việc xác nhận. Vấn đề là họ tư liệu hóa di sản của mình rất tốt. Đúng là có hiện tượng suy bì này nọ giữa các di sản được và chưa/không được công nhận danh hiệu. Nam Mỹ chứ không chỉ Việt Nam. Quan trọng nhất là phải có tự do sáng tạo. Đặc biệt di sản phi vật thể. Đây là thời truyền thông rầm rộ xuất hiện.

Chính Unesco từ những năm 1980 đã bắt đầu có sự cảnh tỉnh về biến dạng di sản. Cụ thể để có thể thực hiện theo. Chính thực tại đó cổ vũ cho phong trào “di sản hóa”. Còn chúng ta chỉ mới ở tuổi bắt đầu. Hằng năm có thêm hàng loạt di sản được xác nhận danh hiệu. Ông đánh giá thế nào? - Việc hăng hái như người ta vẫn hô hào nào “để truyền bá.

Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền cũng quan ngại về một đường hướng bảo tồn khá mơ hồ và thiếu chuẩn hiện. Lễ thức cấp sắc của người Dao. Vày “di sản hóa” hiện vẫn phát huy tác dụng của nó. Nhận thức là điều cần phải thay đổi đầu tiên. Ký ức của cộng đồng chỉ là những mảnh vụn thì sự tham gia của nhà khoa học là rất quan yếu.

* Nhiều năm nay. Chúng ta chưa làm được điều này. Nhưng ít ra cũng phải có điểm dừng chứ? - Chúng ta đang quá say sưa với danh hiệu.

Chạy theo và kiếm tìm sự tôn danh hiệu; mặt khác. Những màn hát ca trù hay hát quan họ không còn dành cho cộng đồng nhỏ nữa. Trong đó quan yếu nhất là phải nhấn mạnh nguyên tắc đa dạng văn hóa. Có danh hiệu về mặt văn hóa cũng là một cách để định vị thương hiệu. * Ông cho rằng “di sản hóa” là quá trình chẳng thể cưỡng lại. Phía Nhà nước lẫn giới nghiên cứu sẽ phải làm gì để đưa di sản văn hóa dân tộc đến gần hơn với công chúng? Để di sản văn hóa của dân tộc không phải “người lạ” trong đời sống hiện đại? - Điều này được hiểu khôn xiết ngắn gọn trong mấy chữ “Giáo dục có hệ thống”.

Dĩ nhiên. Những nước làm bảo tàng tốt còn có các lớp tập huấn cho những nhà báo chuyên viết về di sản

Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể: cả tĩnh và động đều có vấn đề

Lễ Pút tồng của người Dao Đỏ. Bên cạnh vấn đề tiền thì vấn đề vô cùng quan yếu là bản thân cộng đồng phải được chuyển giao công nghệ tổ chức.

Lễ hội Nhà nước hóa các hệ giá trị. Nguyên tắc thứ hai là quý trọng quyền văn hóa của chủ thể. Hội làng ngày xưa đã biến thành lễ hội vùng. Bởi hiện giờ ở Việt Nam đang có khuynh hướng cứ có danh hiệu. Unesco có một bộ hướng dẫn nhưng chỉ bao gồm những nguyên tắc chung chứ không phải là một bộ công cụ đầy đủ. Quan điểm của ông về vấn đề này ra sao? - Đây chính là điều đòi hỏi sự mẫn cảm của nhà quản lý.

Coi đó là một kênh cực kỳ hữu hiệu trong việc truyền tải thông điệp của di sản tới công chúng.

Cộng đồng và từng cá nhân chủ nghĩa đều muốn danh hiệu. Họ có những cách tiếp cận khác nhau và chưa tìm được tiếng nói chung trong việc chuẩn hóa các dụng cụ này. Khuyến khích cộng đồng khu vực có ý thức giữ giàng. Sở hữu. Đây là một bài toán kinh tế chứ không thuần tuý là một dự án phát triển để bảo tồn di sản. Thường ngày. Bàn thảo với TTCT.

TS Lương Hồng Quang (phó viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam).

Góp phần khiến di sản ngày một trở thành xa cách cộng đồng. Các nước Âu - Mỹ đã sang trọng thời kỳ này từ rất lâu rồi. Nguyên tắc thứ nhất là tăng cường sự dự của cộng đồng vào các di sản. Không chỉ phía Nhà nước mặc cả người dân cũng đang đẩy mạnh quá trình “di sản hóa” này một cách rần rộ. Theo ông. Điều này nói ra đau lòng lắm.

Cả hai cách đều có những phức tạp riêng và đương nhiên cách nào cũng tốn tiền như nhau. Ngay chương trình mục tiêu nhà nước cũng rất chú trọng đến các di sản đã được xác nhận. Sinh sản và vận hành việc này. Và công cuộc bảo tàng quơ sẽ trở nên bất khả thi vì đòi hỏi một cơ chế quản lý hoàn hảo kiểu “ba đầu sáu tay”. Có hai hình thức bảo tồn là bảo tàng tĩnh và bảo tồn động.

Bên cạnh đó. Sàn diễn hóa. Anh phải nhận thức được những hệ quả không mong muốn là sự đua tranh của các cộng đồng. Nếu anh là nhà quản lý. Sưu tầm. Trước đây.

Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật ở Việt Nam bây chừ hoàn toàn không có. Cả tĩnh và động đang bị chê trách vì làm chưa tới? - Với bảo tồn. Nghĩa là quyền tự do tả. Biến mất khỏi đời sống từng lớp thời nay. Tuy nhiên. Bao gồm làm phim tài liệu. Cả khía cạnh tích cực lẫn tiêu cực của trào lưu “di sản hóa” này.

Trong các hoạt động phải tránh sự can thiệp của Nhà nước vì dù sao Nhà nước vẫn cứ là “người ngoài”. Quốc gia và cộng đồng sẽ phải làm gì để di sản không bị biến dạng? - Theo tôi.

Việc bảo tồn các di sản văn hóa phải dựa trên hai nguyên tắc. Thiên hướng này dẫn đến nhiều hệ quả: một mặt là sự thèm khát danh hiệu.

Chính bản thân quá trình xác nhận danh hiệu cũng đã đi trái lại quá trình đa dạng văn hóa. Không chỉ tôi mà rất nhiều nhà chuyên môn khác cũng nhìn thấy rõ khi đi điền dã. Nhìn ở cả hai mặt tích cực và bị động.

Tự do sáng tạo. Từ đó đặt ra câu hỏi: còn các di sản khác thì sao? Đây là bài toán phải tính kỹ. Nhất là khi “di sản hóa” là một quá trình không thể cưỡng lại. Có những di sản sau khi được công nhận vẫn bị bỏ mặc lắt lay. Thậm chí mơ hồ. Sẽ không có chuyện văn hóa cao. Không hoàn toàn theo công ước quốc tế mà UNESCO đã đề ra.

Để lan tỏa.

No comments:

Post a Comment