Friday, October 4, 2013

Chuyện về nghĩa trang hoạn quan căn hộ tập thể độc nhất vô nhị ở Việt Nam bị lãng quên.

Lăng mộ thái giám tại chùa Từ Hiếu (ảnh lớn)

Chuyện về nghĩa trang thái giám duy nhất ở Việt Nam bị lãng quên

Để phân biệt với lớp quan lại khác trong cung, các hoạn quan được cấp một loại trang phục riêng bằng lụa xanh, dệt hoa trước ngực, đội mũ cứng hoặc khăn xếp. Chìm trong quên lãng  Ngoài hình ảnh trên những tấm bưu thiếp như đã kể, những dấu tích của thái giám triều Nguyễn còn lại cho đến thời khắc này ở Huế chỉ là nền móng của một “Cung Giám viện” đổ nát và những ngôi mộ thái giám lạnh lẽo trong khuôn viên chùa Từ Hiếu ở phía tây thành thị Huế.

Đến năm 1893 - đời vua Thành Thái thứ 5, chùa Từ Hiếu được Hòa thượng Cương Kỷ cho trùng tu lớn. 000m2, có chiều dài 26,03m và rộng 19,05m, được bao quanh bởi bốn bức tường dày 0,79m; cao 1,78m, ở giữa có tấm bia khắc ghi công lao đóng góp của các thái giám.

Nhiều bia mộ khác vẫn còn đọc rõ chữ. Một thời vàng son đã khép lại, mỗi khi nhắc đến Huế, nhiều người vẫn còn nhớ khá rõ những giai thoại về các vị vua chúa, quan liêu triều Nguyễn. Từ đó, chùa Từ Hiếu còn có tên gọi khác là chùa thái giám. Rõ ràng nhất là bia số 22 (ở dãy trong cùng) có khắc: Hoàng triều Cung Giám viện, quảng vụ Nguyễn Hầu, đứa ở thôn Nhi, xã Hoàng Công, tổng Hoàng Công, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội; mất ngày 15 tháng Giêng năm Khải Định thứ V (1920).

Về sau, một số thái giám khác lường trước được mạng cô quạnh của mình lúc xế chiều nên đã nhiều lần quyên tiền tôn tạo, kiến thiết lại chùa nhằm có chỗ náu thân khi về già buộc phải rời cung cấm. Hằng ngày họ phải xếp đặt thứ tự, lên danh sách các phi, tần và sắp xếp lịch, giờ để vua “ngự dâm”. Đến năm 1848, “Thảo am an dưỡng” được mở mang và xây dựng quy mô, nhờ vào sự đóng góp lớn của một vị thái giám trong triều tên là Châu Phước Năng.

Laborde ghi nhận, dân quê một số vùng ở Huế thời đó, người ta vẫn bảo nhau câu cửa miệng rằng: “Ăn mà đẻ “ông Bộ” cho làng nhờ”! Tuy nhiên, những “giám sinh” thường là khó phát hiện và không an toàn tuyệt đối nên việc tuyển thái giám từ nguồn thứ hai là khá phổ quát. Theo tục lệ, hằng năm cứ đến rằm tháng 11, chùa Từ Hiếu lại tổ chức ngày giỗ chung để tưởng nhớ những người đã mất, trong đó có hoạn quan triều Nguyễn.

Một là những cậu bé sinh ra đã không có bộ phận sinh dục (gọi là hoạn quan thiên nhiên hay là giám sinh). Các hoạn quan được tuyển từ những đời vua trước đó sống ở trong cung chỉ lo việc quét dọn sân vườn, chơi cây cảnh chứ không phải lo việc “chăn gối” cho vua. Một số thái giám lại chuyên việc xỏ xiên, xâu các cung phi góa bụa của “tiên đế” (vua đời trước) ở các lăng mộ.

Nhiều du khách đến thăm Huế, thăm đất Thần Kinh, lăng tẩm nhưng ít ai biết đến những thái giám vốn là những người góp phần quan yếu trong việc quản dưới thời các triều đại. Sau đó cẩn thận biên chép lại tính danh các bà phi được “ngự dâm” cùng giờ giấc, tháng ngày… để sau này nếu các phi, tần đó có con với vua sẽ được xác nhận, tránh lầm lẫn.

Các ngôi mộ có 3 dãy, hàng thứ nhất mộ to, hàng thứ ba mộ nhỏ hơn hàng thứ hai vì được xếp theo chức vụ của quan thái giám xưa. - Huế 20. Khi đứa bé lên 10, Bộ Lễ sẽ đưa nó vào cung để khuyên bảo cho đứa trẻ đầy đủ từ những nghi lễ phức tạp trong cung cho đến kiến thức, cư xử… để khi lớn lên sẽ sung vào đội hoạn quan. 3. Năm 1843, một vị Hòa thượng tên là cố định đã lên đây dựng “Thảo am an dưỡng” để tịnh tu và chăm sóc mẹ già.

Để đương đầu với sự cô quạnh, nhiều hoạn quan đã nhận con nuôi. Nên, những “giám sinh” thời đó chẳng những không bị coi thường như hiện mà còn được người làng cung kính gọi là “ông Bộ”. Cũng như các đồng hương của họ, những người thái giám đội khăn đóng chứ không che mặt như kiểu các tín đồ đạo gia tô ở bên Pháp của ta.

Làng nào ở Huế thời đó mà có được một cậu bé như vậy thì được coi là điềm tốt. Đặc biệt vua Duy Tân chỉ độc nhất vô nhị một lần nạp thiếp (Hoàng Quý phi Mai Thị Vàng) nên các thái giám triều này coi như… thất nghiệp.

Đặc biệt, tại tha ma có một tấm bia ký sắc nằm ở phía mặt tiền. Cổng chính giữa có đặt một tấm bia đá được dựng từ năm 1901 do Cao Xuân Dục soạn, ghi lại những tâm tư của hoạn quan triều Nguyễn: “Trong khi sống chúng tôi tìm thấy ở đây sự tĩnh lặng, khi đau ốm chúng tôi đến lánh mình và sau khi chết được mai táng cùng nhau.

Nói đúng hơn, họ là những người tai to mặt lớn. Và họ đã được thỏa nguyện. Theo nhà nghiên cứu Huế Hồ Tấn Phan, vào giai đoạn đầu triều nhà Nguyễn, mỗi triều vua thường có khoảng 200 thái giám. Mặc dù nằm trong khuôn viên chùa Từ Hiếu nhưng khách thập phương chỉ quan tâm đến cúng bái, hành hương, ít ai chú ý đến những ngôi mộ này.

Luật triều Nguyễn năm Minh Mạng thứ 16 (1836) quy định khi có “giám sinh” chào đời, bố mẹ đứa bé phải báo ngay cho làng, xã để lập danh sách báo lên cho Bộ Lễ nắm. Số mộ đếm được là 25 ngôi, có 2 ngôi mộ gió không có thi hài ở đó. Khi cậu bé “giám sinh” này được tiến cử cho vua, cả làng đó sẽ được hưởng bổng lộc vua ban. Tuy nhiên do mất khả năng sinh con, nên họ thường chọn lấy phụ nữ già - cốt yếu để bầu bạn trong những ngày tháng cuối đời.

Số ít thái giám may mắn hơn thì được quay về với bà con, họ hàng… Cũng có những vị thái giám, vì lo âu không có chốn khi nằm xuống, bát hương sẽ lạnh trong ngày giỗ nên khi còn sống họ đã liệu tính trước cho mình một nơi an nghỉ.

Dưới các bậc này, thái giám không được xin miễn thuế cho cha mà chỉ được xin cho em hoặc cháu. Hình ảnh của hoạn quan triều Nguyễn được chụp lại trên các bưu ảnh

Chuyện về nghĩa trang thái giám duy nhất ở Việt Nam bị lãng quên

Những gì còn lại đối với những thái giám chỉ còn lại chút ngùi ngùi, xót thương cho những kiếp người sống cô độc, chết trong hoang lạnh.

Dương Xuân vốn là một ngọn núi hoang sơ. Ở đó làm một cái am lợp ngói để hằng năm thờ cúng, gần nơi của Phật mới là nơi thừa tự lâu dài. Và cũng chính vua Tự Đức đã ban cho chùa cái tên Từ Hiếu. Trái lại, họ để lộ mày mặt, mường tưởng rất rõ ràng. Tài liệu của Công sứ A. Tuy nhiên đến khi già yếu, các hoạn quan buộc phải rời Đại Nội để ra dưỡng già hoặc nằm chờ chết tại một tòa nhà ở phía bắc Hoàng thành, gọi là “Cung giám viện” chứ không được chết ở trong cung – nơi chỉ dành riêng cho vua chúa và gia đình.

Một số hoạn quan triều Nguyễn có đóng góp tiền để xây cất và trùng tu chùa sau khi chết được chôn tại một tha ma nằm bên phải chùa.

Làng nào có “giám sinh” được báo lên nghiễm nhiên sẽ được miễn thuế 3 năm. Còn những ngày bình thường, khu mộ địa vắng bóng, ít người hỗ tương. Một số khác chọn cách lấy vợ. Và ngày thường cùng bạn hữu nếu ai ốm đau có chỗ ra vào dưỡng bệnh, khi nằm xuống có chỗ tống táng”. 1908”. Tha ma thái giám là một khu mộ hình chữ nhật với diện tích gần 1.

Đẻ “ông Bộ” cho làng nhờ  Theo nhà nghiên cứu Huế Nguyễn Đắc Xuân, việc tuyển chọn hoạn quan vào cung dưới triều Nguyễn chủ yếu từ hai nguồn.

Sống hay chết ở đây chúng tôi đều được yên tĩnh”. Đó là những người đặc biệt trong quần chúng An Nam. Đó là những gia đình cảnh ngộ quá khó khăn nên họ tình nguyện cho con làm hoạn quan.

Chùa Từ Hiếu tọa lạc trên núi Dương Xuân, ở phía tây thị thành Huế, cách Hoàng thành 5km. Khi về già hoặc đau ốm, các hoạn quan không được ở trong Nội cung mà phải chuyển ra ngoài ở trong một tòa nhà ở phía bắc Hoàng thành gọi là “Cung giám viện”.

Khi sống, họ xỏ xiên trong Tử Cấm Thành hoặc các lăng tẩm. Chuyện “Những người đặc biệt trong nhân dân An Nam”  Hình ảnh của các hoạn quan còn lưu lại cho đến hiện tại là một vài tấm ảnh được in trên những tấm bưu thiếp do Collection Dieulefils, Hà Nội ấn hành năm 1908. Bia chỉ cao quá 1m, rộng hơn 0,5m nhưng nội dung khiến người đọc không khỏi xót xa: “Nhân nghĩ rằng nếu không lo kể về sau, khi còn sống thì nương nhờ chốn Phật, mà khi chúng ta chết thì biết tợ vào đâu? Nhận thấy ở góc thành phía Tây Nam có một đám đất, lấy gạch xây thành để về sau làm nơi chôn mộ.

Ảnh: TL - đại đăng khoa Phần lớn các đời vua triều Nguyễn, công việc của các thái giám là hòng nhà vua trong các việc liên quan đến chuyện gối chăn. Nếu không có các sư của chùa quét dọn và lửa hương thì chắc các ngôi mộ này đã bị hủy hoại theo dòng chảy của thời kì.

Vĩnh viễn, một lớp người từng tồn tại cả ngàn năm trong lịch sử phong kiến Việt Nam đã đích thực biến mất. Thế nhưng, nhắc đến thân phận hoạn quan rất ít ai để ý đến. Phía mặt sau của một tấm bưu thiếp có ảnh của 5 vị thái giám đứng ngồi bên thềm Đại Nội (Huế) do nhà nghiên cứu Huế Phan Thuận An sưu tầm được, có bút tích của một người Pháp thời đó, bộc lộ các hoạn quan triều Nguyễn như sau: “Người ta gọi những hoạn quan là những người có danh vọng trong thành.

Có nhiều đứa trẻ mới lên 7 đã bị cắt “của quý” đưa vào cung và sống trong đó cho đến già mới được trả về.

Nhiều thái giám lại tiếp chuyện quyên tiền đóng góp, đồng thời gửi gắm hoài vọng sau khi chết sẽ được an táng tại đây để nương cửa Phật. Luật cũng quy định làng nào có “giám sinh” mà giấu không báo sẽ bị phạt nặng.

Cụ thể, những hoạn quan thuộc 4 đẳng trật cao nhất là “Quảng vụ”, “Điển sự”, “Kiểm sự” và “Phụng nghi” có thể xin vua ban cho chức Nhiêu Phụ (cho cha) để họ được miễn thuế cả đời.

Khi vua Bảo Đại - vị hoàng đế rút cuộc của triều Nguyễn - chính thức lên ngôi, việc tuyển hoạn quan không còn nữa, dù rằng vị vua rút cục của triều Nguyễn nổi mang tai mang tiếng đào hoa. Thời Khải Định, công việc của các hoạn quan có phần bận rộn bởi ông vua này mang tiếng là “bất lực” nên thường giao các hoạn quan trông nom cho 12 bà vợ của mình.

Tuy bản thân không được vinh dự như hàng quan liêu, song các thái giám vẫn có thể mang lại cho bố mẹ, họ hàng những lợi quyền một mực. Đây cũng là tha ma hoạn quan độc nhất ở Việt Nam còn sót lại. Trong đó, 21 ngôi còn vẹn nguyên, có bia khắc tăm tiếng, quê quán, pháp danh, chức phận và ngày mất. Với sự vận động của vị thái giám này, vua Tự Đức và Hoàng Thái hậu Từ Dũ cùng nhiều đại thần trong triều đã góp tiền của để xây dựng, nâng cấp từ thảo am thành một ngôi chùa quy mô.

Đêm đến, thay vì đến phòng các bà vợ, vua lại lệnh cho các hoạn quan và đội nhạc trong cung đến hầu chuyện, tấu nhạc cho vua nghe; hoặc hầu chuyện những khi vua đi dạo… Đến thời vua Thành Thái, số lượng thái giám giảm hẳn, chỉ còn 15 người.

Những người này phải chịu trải qua đau đớn tột bậc khi bị loại bỏ bộ phận sinh dục nam trước khi đưa vào cung để cho những hoạn quan có thâm niên dạy các nghi thức khắt khe của cung đình, từ việc đi đứng cho đến cách ăn mặc, bẩm thưa.

No comments:

Post a Comment